Người học luật nghiên cứu thế nào?

Facebook
LinkedIn

Kỹ năng nghiên cứu là một kỹ năng thiết yếu để học luật và hành nghề luật, bất kể nghề luật cụ thể nào (dù là luật sư tư vấn, luật sư tranh tụng, pháp chế, thẩm phán, kiểm sát viên, v.v.) và bất kể lĩnh vực hành nghề cụ thể nào mà bạn đang hướng đến (doanh nghiệp, đầu tư, bất động sản, sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, dân sự, hình sự, v.v.).

Kỹ năng nghiên cứu có thể được “tóm gọn” là việc tìm các thông tin có liên quan đến một chủ đề nhất định để phục vụ một mục đích nhất định của người đó. Trong phần lớn trường hợp, “nghiên cứu” sẽ không dừng lại ở việc tìm kiếm được một thông tin cụ thể (hoạt động này thường được biết đến là tra cứu), mà sẽ thường bao gồm cả việc đánh giá tính phù hợp của thông tin cũng như đọc và hiểu thông tin đã tìm kiếm được để áp dụng vào giải quyết một vấn đề cụ thể.  Trong lĩnh vực pháp lý nói riêng, theo trải nghiệm của cá nhân của cá nhân mình, kỹ năng nghiên cứu có thể được chia ra thành hai loại, bao gồm (i) nghiên cứu pháp lý và (ii) nghiên cứu thông thường.

Nghiên cứu pháp lý là việc nghiên cứu các quy định pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng như một số văn bản pháp lý không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng có liên quan trực tiếp đến các quy định pháp luật (ví dụ: hợp đồng; một số loại đơn/thư từ như đơn kiến nghị, đơn phản tố, đơn khởi kiện; các biểu mẫu trong các thủ tục hành chính, các văn bản được ban hành bởi các cơ quan nhà nước nhưng không phải là văn bản quy phạm pháp luật như công văn, thông báo hay báo cáo). Như đã đề cập ở phần định nghĩa chung phía trên về nghiên cứu, quá trình nghiên cứu pháp lý sẽ không dừng lại ở việc tìm được một hoặc một số quy định pháp luật cụ thể về vấn đề cần giải quyết, hoặc một biểu mẫu văn bản cần thiết cho một thủ tục hành chính, mà còn bao gồm việc đánh giá tính phù hợp của kết quả nghiên cứu với vấn đề cần giải quyết và hiểu các thông tin trong kết quả nghiên cứu để áp dụng giải quyết một vấn đề cụ thể.

Nghiên cứu thông thường có hiểu đơn giản là việc nghiên cứu về các vấn đề không phải là các quy định pháp luật, ví dụ như: nghiên cứu thông tin có sẵn trên internet về hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp; nghiên cứu một báo cáo của một tổ chức quốc tế về thực trạng xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam. Nghiên cứu thông thường cũng bao gồm việc nghiên cứu các tình tiết trong hồ sơ một vụ việc tranh chấp hoặc một vụ án hình sự để đại diện cho thân chủ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ trong vụ việc/vụ án đó. Nhìn chung, phạm vi của nghiên cứu thông thường rất rộng, bất kỳ vấn đề nào không liên quan trực tiếp đến một quy định pháp luật đều có thể được phân loại là nghiên cứu thông thường.

Gần như đối với các lĩnh vực hành nghề luật, kỹ năng nghiên cứu đều là một kỹ năng rất cơ bản và dường như là một yêu cầu bắt buộc mà nhà tuyển dụng mong muốn ứng viên phải có ở một mức độ tốt. Thậm chí, kỹ năng nghiên cứu trong bất cứ nghề luật cụ thể nào, dù là luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên hay chuyên viên pháp chế, đều rất tương đồng ở điểm đều có sự phối hợp nhịp nhàng giữa nghiên cứu pháp lý và nghiên cứu thông thường để giải quyết một vấn đề cụ thể.

Đối với một luật sư tư vấn, việc nghiên cứu bao gồm nghiên cứu bối cảnh tư vấn, yêu cầu của khách hàng, các thông tin về các hoạt động có liên quan đến khách hàng và yêu cầu tư vấn và các quy định pháp luật có liên quan để giải quyết yêu cầu của khách hàng.

Đối với một luật sư tranh tụng, việc nghiên cứu bao gồm nghiên cứu hồ sơ vụ việc, bối cảnh tranh chấp, các thông tin có liên quan đến vụ việc và các quy định có liên quan để đại diện cho thân chủ giải quyết vụ việc theo hướng có lợi cho thân chủ.

Đối với một chuyên viên pháp chế trong một doanh nghiệp, việc nghiên cứu cũng diễn ra thường ngày, bất cứ khi nào có một yêu cầu cụ thể trong nội bộ doanh nghiệp cần ý kiến của bộ phận pháp chế, việc nghiên cứu sẽ là hoạt động chuyên viên pháp chế cần thực hiện ngay sau khi đã đọc hiểu yêu cầu, bao gồm cả việc nghiên cứu các quy định pháp luật có liên quan và các thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các thông tin khác về doanh nghiệp, thị trường mà không phải là các quy định pháp luật.

Đối với thẩm phán hay kiểm sát viên, việc nghiên cứu cũng sẽ bao gồm nghiên cứu pháp lý, cụ thể là nghiên cứu những quy định pháp lý có liên quan đến việc giải quyết vụ việc và những thông tin phải là quy định pháp luật (điển hình là tình tiết vụ việc thực tế) để giải quyết một vụ việc.

Đối với chuyên viên nghiên cứu tại các cơ sở nghiên cứu pháp luật, việc nghiên cứu là công việc chủ đạo của những người hành nghề này, và thậm chí kỹ năng nghiên cứu có thể còn được đẩy lên cao hơn nhiều, chi tiết, cụ thể và tỉ mỉ hơn nhiều so với các nghề nghiệp khác trong ngành luật.

Để lại phản hồi

Có phải bạn đang tìm: quyền con ngườihiến pháphợp đồng

Tuỳ chọn Lọc
Tìm kiếm theo Tiêu đề
Tìm kiếm trong nội dung
Chỉ tìm kết quả khớp hoàn toàn
Lọc theo chủ đề
Chọn toàn bộ
Bảo mật dữ liệu
Dịch vụ pháp lý
Luật nhà ở
Luật Tố tụng dân sư
Luật trọng tài thương mại
Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Luật tố tụng hình sự
Luật thương mại
Luật sở hữu trí tuệ
Luật phá sản
Luật thuế
Luật hiến pháp
Luật lao động
Luật môi trường
Luật Hôn nhân và Gia đình
Luật hình sự
Luật đất đai
Luật đầu tư
Luật đấu thầu
Luật doanh nghiệp
Luật Các tổ chức tín dụng
Luật cạnh tranh
Luật dân sự
Luật hành chính
Luật quốc tế
Khác

NỘI DUNG CHÍNH

Youtube - Clip chia sẻ